Thứ Ba, ngày 26/09/2017 - 10:13 SA
Võ sư Ngô Bông và tinh thần hướng về nguồn cội
Con người mà cả làng võ cổ truyền đều thừa nhận là “xưa nay hiếm” đã đi vào hư vô sau khi làm trọn nghĩa vụ của một “truyền nhân” võ thuật Tây Sơn mà định mệnh cuộc đời đặt lên vai ông.

Sau cái chết là sự sống, điều này đúng với làng võ thuật cổ truyền Việt Nam sau khi truyền nhân bài võ Hùng kê quyền thất truyền 200 năm thời Tây Sơn - lão võ sư Ngô Bông tạ thế. Với nỗi buồn từ nay vắng bóng một cây đại thụ, một tay chơi võ, luyện võ đến độ chinh phục tất cả những người khó tính nhất, trong sâu thẳm những người con đã ngộ được mình với thế giới võ cổ truyền Việt Nam, một khát vọng tiếp bước theo con đường của cụ để tìm về quá khứ, phục hồi những tinh hoa võ thuật dân tộc bị mất đã được thắp lên.

Võ sư Võ Bông.
Võ sư Ngô Bông.

Các nhà sưu tầm sách kể rằng thời Tây

Sơn Tương truyền, Hùng Kê Quyền là do ông Nguyễn Lữ, em thứ ba sau Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ qua nghiên cứu các thế gà đá (chọi) nhau mà sáng tạo ra. Theo Võ nhân Bình Định của Quách Tấn - Quách Giao, "Nguyễn Lữ vốn người mảnh khảnh, tánh nết hiền hòa, ưa thanh tịnh. Khác với hai anh, ông học văn nhiều hơn học võ. Tuy nhiên, ông cũng đã học hết các môn võ và chuyên về môn miên quyền..."

Theo yêu cầu của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn lúc bấy giờ, làm sao chỉ trong một thời gian ngắn, phải huấn luyện cho các nghĩa quân Tây Sơn tinh thông võ nghệ theo phương châm: Yếu có thể đánh mạnh/ Thấp có thể đánh cao/ Nhỏ có thể đánh lớn/ Ít có thể đánh nhiều. Qua nghiên cứu các thế gà đá nhau, ông đã áp dụng vào võ thuật, từ đó rút ra lối võ dùng yếu thắng mạnh, dùng mềm thắng cứng. Nghiên cứu các thế đá ào ạt tấn công của con gà lớn với cái thế chống đỡ của con gà nhỏ thường chui luồn, xỏ vỉa, để rồi tạo ra các thế lặn hụp, tránh né, đến phản công, cuối cùng ông chắt lọc, sáng tạo ra bài quyền mang tên Hùng kê quyền. Cùng thời gian này, Nguyễn Huệ đã sáng tạo ra bài Nghiêm thương còn nữ tướng Bùi Thị Xuân thì sáng tạo bài Song phượng kiếm.

Ngay sau khi ra đời, Hùng kê quyền lập tức được các nghĩa quân Tây Sơn tập luyện và ứng dụng rộng rãi bởi tính hiệu quả của nó. Trong những chiến công oanh liệt của quân Tây Sơn, có phần đóng góp của bài võ này. Triều đại Tây Sơn qua đi, Hùng kê quyền cũng theo đó mà đi vào im lặng và quên lãng.

Sau bao năm chỉ đọc thấy bí kíp thất truyền này trong những quyển sách võ thuật, tại giải võ cổ truyển toàn quốc tại TPHCM, cụ Võ Bông đã làm giới võ thuật sửng sốt khi giới thiệu Hùng Kê quyền với với bài thiệu đi kèm, giới thiệu rõ xuất xứ của nó.

Gần 20 năm trôi qua, Hùng Kê quyền giờ đã trở thành một trong 10 bài võ trong chương trình giảng dạy chính thức của Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam, nhiều lần khiến các nền võ thuật dân tộc trên thế giới phải trầm trồ khâm phục.

> Xem clip giới thiệu võ sư Võ Bông và Hùng kê quyền trong phim Đời Võ

Trong làng võ cổ truyền vốn bị chi phối bởi quy luật “Văn vô đệ nhất, võ vô đệ nhị”, khó có ai chịu nhận ai hơn mình, riêng cụ Võ Bông là một hiện tượng lạ khi đâu đâu cũng có người yêu mến, nể phục. Bởi cả cuộc đời cụ dồn hết cho võ dân tộc. Cha mẹ mất sớm từ khi ông lên một tuổi, Ngô Bông được các người cậu của ông cưu mang. Ông ngoại Ngô Bông vốn là một nghĩa quân Nhà Tây Sơn, binh pháp tinh thông, võ nghệ cao cường. Ông truyền dạy cho những người con trai của ông (tức cậu ruột Ngô Bông) nhiều thế võ, trong đó có Hùng kê quyền cùng bài thiệu về thế võ này. Ngô Bông được ba người cậu vừa dạy võ vừa truyền luôn bài thiệu của Hùng kê quyền.

Sau này, nhờ hun đúc truyền thống quật cường và khí phách võ học của vùng đất “Ngũ Quảng”, cùng tư chất cần mẫn, siêng năng, đức độ, hiếu học, nên ông được nhiều danh sư kiệt xuất võ công lúc bấy giờ hết lòng truyền dạy. Năm 13 tuổi, ông chính thức nhập môn và được các đại danh sư Bảo Truy Phong, Lâm Võ, Tấn Hoành thay nhau truyền thụ võ công. Sau đó ông vào đất võ An Thái (An Nhơn, Bình Định), nơi hội tụ của các anh hùng, hào kiệt, văn võ kinh luân, để tiếp tục trao dồi võ nghiệp. Nói về võ Bình Định có câu nói nổi tiếng “trai An Thái, gái An Vinh, roi Thuận Truyền, quyền An Thái”. Làng võ An Thái là nơi giúp ông học hỏi tinh hoa quyền thuật võ dân tộc. Dù không phải người Bình Định thì sau này giới võ thuật ở vùng đất võ thiêng vẫn coi ông như một “chàng trai An Thái”. Trong những người thày giỏi truyền dạy ông có thể kể tới các đại danh sư Hồ Ngạnh, người cực giỏi về roi đánh nghịch (ngược với những người chuyên đánh roi thuận), Hương Kiếm Mỹ (sau này vì quá giỏi kiếm nên được gọi là Vương Kiếm Mỹ).

Trong quãng thời gian hơn 10 năm (từ khoảng năm 1946 – 1957), ông khổ luyện các tuyệt kỹ về quyền thuật lẫn binh khí, phương pháp Y võ lẫn bốc thuốc, chữa bệnh. Đặc biệt là với các bí pháp độc đáo của dòng võ Tây Sơn – Bình Định, ông đã chuyên tâm nghiên cứu, học sâu các bài quyền “Ngọc Trản ngân đài”, “Thiền Sư”, “Hắc Hổ du sơn”, “Hùng Kê quyền”…, tái dựng thành công các bài quyền này. Sau khi thành tài, ông tiếp tục “chu du” khắp các tỉnh miền Trung và Nam Bộ để truyền bá võ nghệ, bốc thuốc, chữa bệnh, giúp người.

Từ ngày đất nước thống nhất (1975) đến trước khi qua đời, ông đã dành hết tâm lực để đào tạo hàng ngàn môn sinh, trong đó có gần 100 võ sư, HLV cao cấp của trên 20 tỉnh, thành trong cả nước. Võ sư Tấn Tương Lai, Chủ tịch Liên Đoàn Võ Thuật Quảng Ngãi nói về cụ: “Ngoài tư chất con nhà võ, luôn khiêm nhường, hoà nhã, sống hết lòng, thương yêu, giúp đỡ mọi người, nhiều môn sinh nghèo đến học, ông tậm tâm truyền dạy không lấy tiền, những người nghèo khổ bị bệnh, ông bốc thuốc, cứu chữa không. Ông được coi là một trong những võ sư tâm huyết và “hiến tặng” toàn bộ cuộc đời của mình cho võ nghiệp”.

Võ sư Ngô Lâm (con trai lão võ sư Ngô Bông) kể lại: “Trước lúc qua đời, ông căn dặn các học trò và con cháu phải đem hết tâm lực để phụng sự cho võ cổ truyền dân tộc và mong muốn đất nước ta sớm đưa VCT dân tộc lên thành “Quốc võ” như cách đây hơn 200 năm nhà Tây Sơn đã thể hiện, có như vậy, võ Việt mới sánh vai với các nước có nền võ học tiên tiến trên toàn thế giới”. Ông có 8 người con (4 nam, 4 nữ) đều theo nghiệp võ.

Từng được ông giúp đỡ khi hoàn thành tài liệu nghiên cứu “Lịch sử võ Bình Định”, võ sư Phạm Đình Phong, Phó Chủ tịch Liên đoàn võ cổ truyền Việt Nam cho rằng cố võ sư Võ Bông là một trong số ít những người đã chạm tới cảnh giới của võ.

“Ấn tượng lớn nhất của tôi đối với cụ là sự chân tình. Người khác thì dấu nghề, cụ thì có gì là truyền hết, rút ruột ra để giúp đỡ. Ngoài chuyện trao đổi những giáo lý võ thuật cả đời cụ được thọ giáo, cụ còn cho hết những bài thiệu võ cổ viết bằng chữ nôm”.

Võ sư Phạm Đình Phong đã tóm lược lại những nguyên lý võ thuật mà ông được cụ Võ Bông chia sẻ khi thực hiện nghiên cứu, trong đó võ học Việt Nam bao gồm cả một hệ thống võ lý, võ lễ, võ đạo, võ kinh, võ cử, võ thuật và võ y.

Trong đó, võ lý là lý thuyết về võ, võ lễ là lễ nghĩa trong võ, võ đạo là con đường thông qua võ thuật để hoàn thiện và đưa con người đạt đến cái đích cuối cùng: đó là tuyệt đỉnh võ công (định nghĩa về tuyệt đỉnh võ chính là văn, khi giỏi võ đến một độ nào đó, con người trở thành một người giỏi văn), võ thuật (là kỹ thuật, kỹ xảo, đòn thế), võ kinh (cao hơn võ thuật, võ kinh nói về lý luận để vận dụng học thuyết âm dương ngũ hành, kết hợp cương công và nhu thuật, nội công với ngoại kích, kết hợp võ thuật chiến đấu với tầm kinh, điểm huyệt và giải huyệt), võ cử là võ để thi thố, võ y là võ kết hợp với y học cổ truyền để chữa bệnh, các sang chấn, điểm huyệt, bị đánh trọng thương…

Tinh thông hệ thống võ học Việt Nam, cụ Võ Bông được coi là kho kiến thức vô giá của võ cổ truyền là vì thế.

Tiếc nuối sự khép lại của “kho tàng võ thuật” Võ Bông, võ sư Phạm Đình Phong tự thấy mình như một học trò nhỏ trước tấm gương sáng chói của cụ. Nghiên cứu nhiều năm về thời kỳ hoàng kim võ thuật của triều đại Tây Sơn, ông cho biết có nhiều tinh hoa võ thuật, xứng đáng là di sản văn hóa độc nhất mà võ dân tộc Việt từng có trong quá khứ nay đã bị thất truyền. Nếu tìm tòi trong dân gian và từ những tài liệu bí ẩn đây đó trong những gia đình có truyền thống võ thuật, rồi đây có thể nhiều bài võ quý sẽ giống như Hùng kê quyền được tái sinh cũng như sẽ có những "truyền nhân" mới tiếp bước cụ Võ Bông.

Một trong những điều bí ẩn nhất của hệ thống võ học Việt Nam – giống như kho báu đang bị chôn giấu trong những lớp phủ mờ ảo của thời gian - chính là võ nhạc. Loại hình võ nghệ thuật này được sáng tạo và đưa lên đỉnh cao dưới thời hoàng đế Quang Trung khi ông chiêu mộ những người kiệt xuất về võ công và âm nhạc dưới trướng. Vị vua “danh võ toàn tài” này đã chủ trương xây dựng một trường phái võ nhạc riêng vừa đóng vai trò như một hoạt động giải trí trong các lễ hội, đồng thời phục vụ chiến đấu.

Võ nhạc có 3 trường đoạn: trường đoạn một phục vụ quân lính hăng say tập luyện, bài bản và đồng bộ. Trường đoạn hai dành cho các đợt hành quân để nâng cao tinh thần tướng sĩ, giúp họ bớt mệt mỏi, dồn bước chân. Nhờ đó mà đoàn quân của ông nổi tiếng thần tốc, ra Bắc vào Nam như đi chợ. Trường đoạn ba dồn dập, uy lực nhất dành cho lúc công thành, khiến tướng sĩ Tây Sơn hăng máu, còn quân địch thì khiếp sợ. Bên cạnh đó, còn có một bài võ nhạc ca khúc khải hoàn để khao quân sau chiến thắng.

Nhà Tây Sơn đặ biệt coi trọng võ nhạc và đây cũng là trường phái võ nhạc độc nhất vô nhị, chỉ có ở Việt Nam. Trong võ nhạc, nhạc cụ được các võ công giỏi sử dụng gồm kèn, trống. Những gì còn lại được trưng bày ở bảo tang Quang Trung ở Bình Định hiện nay chỉ được coi là nhạc võ chứ chưa phải là võ nhạc truyền thống và đã bị biến tấu đi rất nhiều so với nguyên tác. Trong võ nhạc, võ phải là chính, nhạc là phụ. Trong tiêu bản còn tồn tại đến năm 1965 trước khi biến mất, một bài võ nhạc được thực hiện trên 24 trống (phiên bản hiện nay chỉ còn 12 trống), trong đó người võ công đánh trống theo từng trường đoạn không phải bằng dùi mà các là các bộ phận cơ thể như: đầu, tay, chỏ, gối, gót chân, bàn chân, khuỷu tay, lòng bàn tay, mu bàn tay…

Sự ra đi của cụ Võ Bông khiến những người đang sống như ông Phạm Đình Phong trăn trở. Hùng kê quyền đã có được kết cục có hậu, còn những bài võ quý hiếm như võ nhạc nếu không được các thế hệ sau theo gương cụ dốc lòng tìm kiếm, phục dựng lại thì đó sẽ mãi là một điểm khuyết đáng tiếc cho tinh hoa võ Việt.

Những suy nghĩ trăn trở không chỉ của riêng võ sư Phạm Đình Phong chính là nguyên vẹn tinh thần tìm kiếm để khôi phục võ Việt mà cụ Võ Bông đã để lại cho đời khi lên đường trở về với nguồn cội. Như một quy luật của muôn đời, sau cái chết chính là sự sống đang tiếp tục trỗi dậy trong lòng thế giới võ cổ truyền Việt Nam.

Minh Hà

Vnexpress

 
 
Y kiến phải hồi của người đọc.
Y kiến phải hồi của người đọc.
 
Gửi ý kiến của bạn.
Gửi ý kiến của bạn.
Hãy kiểm tra nút mã xác nhận trước khi viết. Nếu không đọc dõ mã xác nhận hãy nhấn "viết lại".